Quá trình hình thành và phát triển công chứng ở Việt Nam

Ngày đăng: 14-02-2020 |

Cùng với sự phát triển của xã hội nói chung và pháp luật nói riêng, hoạt động công chứng ngày càng có vai trò và ý nghĩa quan trọng. Qua bài viết này chúng tôi tổng đài luật NQH sẽ đi sâu phân tích và tìm hiểu vấn đề này như sau: “Quá trình hình thành và phát triển công chứng ở Việt Nam.”


Khái niệm và ý nghĩa của công chứng

Khái niệm công chứng

      Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng 2014 định nghĩa “Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyên yêu cầu công chứng.”

Ý nghĩa của công chứng

      Thực tiễn thực hiện, áp dụng pháp luật cho thấy tranh chấp trong xã hội ngày càng tăng, trong đó có nguyên nhân là không có bằng chứng xác thực. Do vậy, tạo sự ổn định quan hệ xã hội, giao dịch dân sự, kinh thế là điều đặc biệt quan trọng nhằm phát triển kinh tế, xã hội. Trong tinh thần đó, Bác Hồ đã nói rất sâu sắc rằng: “Xét xử đúng là tốt, không phải xét xử còn tốt hơn.” Cho nên đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến pháp luật là cần thiết, song tăng cường hơn nữa các biện pháp, công cụ tổ chức thực hiện pháp luật cũng cần thiết không kém. Công chứng là một hoạt động quan trọng, một thể chết không thể thiếu được của Nhà nước pháp quyền. Thông qua hoạt động công chứng và các quy định hướng dẫn, điều chỉnh pháp luật trở thành hiện thực sinh động của đời sống xã hội, thành hành vi xử sự theo đúng pháp luật. Do đó xét trên bình diện công dân thì công chứng là một công cụ hữu hiệu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, tạo ra sự ổn định của quan hệ giao dịch dân sự, tài sản, bảo đảm trật tự, kỷ cương. Mặt khác về phương diện Nhà nước thì công chứng tạo ra một chứng cứ xác thực, kịp thời không ai có thể phản bác, chối cãi, trừ trường hợp có ý kiến của người thứ ba và được quá trình tố tụng cho là không đúng, bởi vậy cơ quan công chứng được xác định là cơ quan bổ trợ tự pháp.

       Công chứng phục vụ việc quản lý các giao dịch bằng pháp luật, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức, phòng ngừa tranh chấp và vi phạm pháp luật, cung cấp tài liệu có giá trị chứng cứ phục vụ cho việc giải quyết tranh chấp, góp phần tang cường pháp chế xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

Quá trình hình thành và phát triển công chứng ở việt nam

Thời kì Pháp thuộc đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945

          Hoạt động công chứng xuất hiện khá sớm ở Việt Nam, kể từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta. Hoạt động chủ yếu phục vụ cho chính sách cai trị của Pháp tại Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng. Tiêu biểu là sắc lệnh ngày 24 tháng 8 năm 1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổ chức công chứng (được áp dụng ở Đông Dương theo quyết định ngày 7 tháng 10 năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương P.Pasquies). Theo đó, người thực hiện công chứng là công chứng viên mang quốc tịch Pháp do Tổng thống Pháp bổ nhiệm và giữ chức vụ suốt đời. Khi đó Việt Nam chỉ có một văn phòng công chứng ở Hà Nội, ba văn phòng công chứng ở Sài Gòn, Ngoài ra ở các thành phố Hải Phòng, Nam Định, Đà Nẵng thì việc công chứng do Chánh lục sự Tòa án sơ thẩm kiêm nhiệm.

Thời kì sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1991

          Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày 1 tháng 10 năm 1945 Bộ trưởng Bộ Tư Pháp Vũ Trọng Khánh đã ký quyết định về một số vấn đề liên quan đến hoạt động công chứng như: bãi chức công chứng viên người Pháp tên là Deroche tại văn phòng công chứng; bổ nhiệm một công chứng viên người Việt Nam là ông Vũ Quý Vỹ (luật khoa cử nhân, luật sư tập sự tại Tòa thượng thẩm Hà Nội) thay thế cho công chứng viên người Pháp tại Hà Nội, những quy định cũ về công chứng của Pháp vẫn được áp dụng, trừ những quy định trái với chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa.

          Để đáp ứng các nhu cầu giao dịch dân sự của nhân dân, ngày 15 tháng 11 năm 1945 Hồ Chủ Tịch ký Sắc lệnh 59/SL quy định về thể lệ thị thực các giấy tờ. Xét về nội dung đây chỉ là một thủ tục hành chính càng về sau việc áp dụng Sắc lệnh 59/SL càng mang tính hình thức, chủ yếu xác nhận ngày tháng năm, chữ ký và địa chỉ thường trú của đương sự. Sau đó, vào ngày 29 tháng 2 năm 1952 Hồ Chủ tịch ký Sắc lệnh 85/SL quy định về thể lệ trước bạ về các việc mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất. Do hoàn cảnh lịch sử bấy giờ Sắc lệnh 85/SL chỉ áp dụng đối với những vùng thuộc Ủy ban kháng chiến. Cũng theo sắc lệnh này, Ủy ban kháng chiến cấp xã hoặc thị xã được nhận thực vào văn tự theo hai nội dung: nhận thực chữ ký của các  bên mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất; nhận thực người đứng ra bán, cho, đổi là chủ của những nhà cửa, ruộng đất, đem bán, cho hay đổi.

Hoạt động công chứng giai đoạn này không được phát triển là vì:

Thứ nhất là do điều kiện kinh tế- xã hội, hoàn cảnh chiến tranh của nước ta thời kì này;

Thứ hai là do nước ta không chấp nhận chế độ sở hữu của các thành phần kinh tế khác ngoài quốc doanh và tập thể. Vì vậy, tổ chức công chứng không được thành lập trong giai đoạn này. Hoạt động công chứng chỉ mang tính chất chứng thực các quan hệ sở hữu tư nhân. Mọi giao lưu kinh tế, dân sự đều dựa trên quan hệ hành chính, quan hệ thương mại hầu như không phát triển. Do vậy, không nhất thiết phải thiết lập các tổ chức hành nghề để thực hiện hoạt động công chứng.

             Theo quy định của Nghị định số 143/HĐBT ngày 22 tháng 11 năm 1981 do Hội đồng Bộ trưởng ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức của Bộ Tư pháp, Bộ tư pháp đã ra Thông tư số 574/QLTPK ngày 10 tháng 10 năm 1987 về công tác công chứng Nhà nước. Theo đó là sự ra đời của phòng công chứng Thành phố Hồ Chí Minh, phòng công chứng Hà Nội và một số phòng công chứng Thành phố Hồ Chí Minh, phòng công chứng Hà Nội và một số phòng công chứng ở các địa bàn khác (nếu có nhu cầu). Sau đó, để tạo điều kiện cho các địa phương tiếp cận gần hơn với hoạt động công chứng, Bộ Tư pháp đã ban hành tiếp Thông tư số 858/QLTPK ngày 15 tháng 10 năm 1987 hướng dẫn thực hiện các việc làm công chứng. Tại thời điểm này, chủ thể thực hiện công chứng duy nhất là phòng công chứng.

              Căn cứ vào những văn bản này, các tỉnh, thành phố trong cả nước đã tiến hành thành lập các phòng công chứng điều này đã góp phần tạo nên mạng lưới các phòng công chứng nhà nước trên phạm vi toàn quốc.

              Tại miền Nam Việt Nam, sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, công chứng dưới thời chính quyền Ngụy- Sài Gòn được điều chỉnh bởi Dụ 43 ngày 29 tháng 11 năm 1954 quy định về ngạch chưởng khế (chưởng khế là người Việt Nam) do Bảo Đại ký với tư cách là Quốc trưởng. Mục đích ban hành chưởng khế là nhằm thiết lập trong quản hạt của mỗi Tóa án cấp sơ thẩm thuộc bộ tư Pháp có một phòng công chứng, song trên thực tế chỉ thiết lập được duy nhất một văn phòng chưởng khế tại Sài Gòn và văn phòng đó đã hoạt động cho đến năm 1975.

Thời kì từ năm 1991 đến nay

              Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 là một bước ngoặt lịch sử trong tiến trình phát triển của đất nước ta- Đại hội của sự đổi mới, mở cửa, chúng ta đổi mới quản lí kinh tế, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tiếp theo sự thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII năm 1991 với cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội và chiến lược kinh tế – xã hội đã vạch ra những định hướng lớn về kinh tế, tiếp tục phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết Đảng, ngày 27 tháng 2 năm 1991 Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 45/HĐBT về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước, đáp ứng  như cầu của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo giá trị pháp lý của các văn bản pháp luật về công chứng. Theo quy định của Nghị định này thì “Phòng Công chứng Nhà nước là cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh có tư cách pháp nhân, có tài khoản riêng ở Ngân hàng, có con dấu mang hình quốc huy”. Tiếp đó, ngày 18 tháng 5 năm 1996 Chính phủ ban hành Nghi định 31/CP về tổ chức và hoạt động công chứng Nhà nước thay thế cho Nghị định số 45/HĐBT, theo đó, phong công chứng thuộc Sở tư pháp nhằm chuyên môn hóa hoạt động công chứng và giảm tình trạng quá tải cho Ủy ban nhân dân.

         Do các giao dịch dân sự, kinh tế, thương mại cũng như các giao dịch khác nhằm phát triển ngày càng phong phú, đa dạng nên Nghị định 31/NĐ- CP đã bộc lộ nhiều điểm bất cập. Do đó, ngày 08 tháng 12 năm 2000 của Chính phủ ban hành Nghị định số 75/NĐ-CP về công chứng, chứng thực. Nghị định này quy định về phạm vi công chứng, chứng thực; tổ chức phòng công chứng; nguyên tắc hoạt động; trình tự thủ tục thức hiện việc công chứng, chứng thực; công tác chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn. Cũng trong nghị định này thuật ngữ phòng công chứng đã được sử dụng để thay thế cho thuật ngữ phòng công chứng Nhà nước góp phần vào yêu cầu quan trọng trong việc xã hội hóa hoạt động công chứng ở nước ta giai đoạn này.

        Trước nhu cầu công chứng ngày càng lớn, để đáp ứng nhu cầu của những người yêu cầu công chứng và thực hiện có hiệu quả hơn nữa chủ trưởng xã hội hóa hoạt động công chứng. Ngày 29 tháng 11 năm 2006, tại kì họp thứ 10 Quốc hội khóa XI, Luật công chứng đã được thông qua và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2007. Để góp phần vào việc thực hiện hoạt động công chứng tốt hơn nữa, các văn bản hướng dẫn thi hành luật công chứng cũng lần lượt ra đời như Nghị định số 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 5 năm 2007 về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ kí; Nghị định số 02/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 04 tháng 01 năm 2008 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật công chứng.

Tình hình hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay. Phương hướng nâng cao hiệu quả của hoạt động công chứng

Tình hình hoạt động công chứng ở nước ta hiện nay

      Hoạt động công chứng của phòng công chứng:

         Trong những năm qua hoạt động công chứng của các phòng công chứng diễn ra sôi nổi trên cả nước, nhất là các tỉnh thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh,… Theo hệ thống Bộ Tư pháp thì hiện nay trên cả nước có 180 phòng công chứng. Tại các thành phố lớn số lượng phòng công chứng được thống kê lại như sau: Hà Nội có 9 phòng công chứng đã được thành lập và cấp phép hoạt động, Thành phố Hồ Chí Minh có 7 phòng công chứng, Hải Phòng có 5 phòng công chứng, Đà Nẵng có 3 phòng công chứng,…

        Cơ sở vật chất ngày càng được nâng cao, trang thiết bị ngày càng hiện đại. Tại các văn phòng công chứng, chất lượng của công chứng viên cũng được nâng lên. Các công chứng viên phần lớn đều có trình độ cử nhân luật trở lên, số công chứng viên mới được bổ nhiệm hành nghề đều trải qua quy trình thẩm tra, xem xét, bổ nhiệm chặt chẽ theo đúng quy định của pháp luật về công chứng.

      Đối với các hợp đồng liên quan đến bất động sản ở nước tiếp nhận thì lãnh sự không công chứng mà giới thiệu công dân Việt Nam đến cơ quan công chứng ở nước sở tại để thực hiện công chứng. Chứng nhận và bảo quản di chúc, chứng nhận giấy ủy quyền của pháp nhân và công dân, đoạn trích tài liệu, bản sao, bản chụp giấy tờ tài liệu, chữ ký trên giấy tờ chứng thực bản dịch và thời gian nộp giấy tờ là hoạt động công chứng của cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoái, những hoạt động trên đã giúp ích rất nhiều cho hoạt động của công dân Việt Nam ở nước ngoái. Hoạt động công chứng của cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoái chủ yếu tập trung vào các công việc đơn giản chủ yếu do việc công chứng của công dân Việt Nam ở nước ngoái khi thực hiện ở nước sở tại sẽ thuận lợi hơn.

Phương hướng nâng cao hiệu quả của hoạt động công chứng

      Thứ nhất, hoạt động công chứng phù hợp với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

      Thứ hai, trong công cuộc cải cách hành chính nói chung và cải cách tư pháp nói riêng, phát triển công  chứng là một đòi hỏi tất yếu. Có như vậy hoạt động công chứng ở nước ta mới đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn cuộc sống, phù hợp với nhu cầu giao lưu kinh tế, hội nhập khu vực mà nước ta đang hướng tới trong giai đoạn hiện tại và tương lai.

      Thứ ba, phát triển công chứng phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa.


Hỗ trợ trực tuyến